Đa dạng mô hình giáo dục
Hà Nội hiện có 78 dự án xã hội hoá giáo dục với tổng mức đầu tư đăng ký trên 5.600 tỷ đồng, sử dụng hơn 1 triệu m2 đất. 58 dự án đã triển khai đầu tư xây dựng, trong đó 17 dự án đã hoàn thành đưa vào hoạt động (so với chỉ tiêu đến hết năm 2012 là 25 trường, đến năm 2015 là 35 trường). Với mục tiêu xã hội hoá giáo dục hướng tới mô hình giáo dục tiên tiến, hiện đại chứ không chỉ đơn thuần là giải quyết giảm tải, bên cạnh các trường công lập, giáo dục Hà Nội có nhiều mô hình hoạt động của các trường ngoài công lập, các trường có yếu tố nước ngoài, có vốn đầu tư nước ngoài, các trường cung ứng dịch vụ trình độ, chất lượng cao.
Thủ đô Hà Nội có tổng số 2.434 trường, trong đó có 371 cơ sở giáo dục ngoài công lập với 159.100 học sinh chiếm 10,1%, tăng 81 trường so với năm 2009. Cụ thể có 193 trường mầm non, 31 trường tiểu học, 13 trường THCS và 26 trường liên cấp, 36 trường GDCN. Riêng cấp học THPT có 92 trường với 37.850 học sinh chiếm tỷ lệ 17,8% tính chung toàn Thành phố. Tuy nhiên, khu vực nội thành đạt 40% trong khi các huyện ngoại thành chỉ chiếm 8,1% .
Một số nhà đầu tư trong và ngoài nước cũng đã quan tâm đầu tư phát triển trường lớp có yếu tố nước ngoài. 121 cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài đang hoạt động tại Hà Nội với 529 giáo viên nước ngoài. Trong đó, 24 cơ sở có vốn nước ngoài đầu tư, 97 cơ sở giảng dạy tăng cường ngoại ngữ theo chương trình nước ngoài.
Hà Nội cũng đã tiến hành thí điểm mô hình cung ứng dịch vụ trình độ, chất lượng cao. Đến nay có 12 trường (so với chỉ tiêu kế hoạch đến hết năm 2012 là 10 trường, đến 2015 là 20 trường). Trong đó có 6 trường MN, 2 trường tiểu học, 1 trường THCS là hệ THCS của trường THPT chuyên Hà Nội – Amsterdam, 2 trường THPT, 1 trường TCCN. Một số quận, huyện hiện đang triển khai đầu tư xây dựng trường theo mô hình cung ứng dịch vụ trình độ, chất lượng cao. Các trường công lập thực hiện thí điểm mô hình này đều là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động và là những cơ sở giáo dục có uy tín, chất lượng vượt trội. Sở GD&ĐT cũng đã chủ động xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá trường học theo mô hình cung ứng dịch vụ trình độ, chất lượng cao dự kiến trình Thành phố phê duyệt trong tháng 5/2012, triển khai thực hiện thí điểm từ năm học 2012-2013.
Hiện nay, 577 xã, phường, thị trấn của Hà Nội đã có trung tâm học tập cộng đồng. Theo nhận xét của đoàn giám sát, các trung tâm này hoạt động tương đối hiệu quả.
Thiếu quĩ đất sạch
Trong công tác xã hội hoá giáo dục, Hà Nội gặp khó khăn trong quản lý các cơ sở có yếu tố nước ngoài do một số điểm chưa thống nhất giữa Luật đầu tư với Luật giáo dục và điều lệ trường học của các cấp. Quá trình thực hiện thí điểm mô hình trường cung ứng dịch vụ trình độ, chất lượng cao còn chậm do Bộ GD&ĐT chưa đưa ra bộ tiêu chuẩn mô hình trường học dịch vụ trình độ, chất lượng cao của các cấp học. Do đó, công tác quản lý thu chi của các trường này còn gặp khó khăn.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất là tình trạng thiếu quĩ đất sạch. Khu vực nội thành có nhu cầu phát triển trường ngoài công lập nhưng khó khăn về quĩ đất, khu vực ngoại thành có quĩ đất nhưng không có nhiều nhu cầu trường ngoài công lập. Từ đó dẫn đến trong nội thành tồn tại nhiều trường ngoài công lập nhưng địa điểm phải thuê dẫn đến hoạt động manh mún, nhỏ lẻ vì không có quĩ đất. Do đó, việc tuyển sinh gặp khó khăn, tỉ lệ huy động học sinh trường ngoài công lập của các cấp học thấp, đặc biệt là cấp THPT.

Giáo viên nước ngoài giảng dạy tại trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
Việc huy động và sử dụng nguồn kinh phí xã hội hoá để giải phóng mặt bằng và bàn giao quĩ đất sạch cho các dự án xây dựng trường ngoài công lập còn nhiều vướng mắc về thủ tục pháp lý. Việc tạo quĩ đất sạch kêu gọi các dự án khuyến khích xã hội hoá đầu tư còn khó khăn do khả năng ngân sách hạn chế. Sự thay đổi các chính sách về đền bù giải phóng mặt bằng cũng gây khó khăn cho các nhà đầu tư. Đối với các khu vực nội thành, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng rất cao trong khi nhu cầu XHH lại rất lớn.
Để tạo quĩ đất sạch cho phát triển giáo dục, Ngành GD&ĐT Hà Nội đã đề xuất với UBND Thành phố: Đối với khu vực nội thành, các cơ sở giáo dục ngoài công lập ở khu vực này chỉ hỗ trợ 30% kinh phí giải phóng mặt bằng. Đối với khu vực ngoại thành, nhận thức về xã hội hoá và mức sống của nhân dân còn thấp nên Thành phố cần có chính sách đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường ngoài công lập thuê, hoặc hỗ trợ kinh phí giải phóng mặt bằng và bàn giao quĩ đất sạch.
Kết luận hội nghị, Chủ tịch HĐND TP Ngô Thị Doãn Thanh ghi nhận: Sở GD&ĐT Hà Nội đã nghiêm túc triển khai các chủ trương xã hội hoá giáo dục, cụ thể là nghị quyết 06/2009/NQ-HĐND. Sở đã ban hành nhiều văn bản thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục, góp phần phát triển hệ thống giáo dục Thủ đô. Xã hội hoá giáo dục là chủ trương lớn, đúng, khó mà Thành phố tiếp tục quan tâm chỉ đạo. Thủ đô là địa bàn có thế mạnh, tiềm năng và người dân có nhu cầu trong xã hội hoá giáo dục tuy nhiên công tác này vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn ở một số nội dung hoạt động. Sở GD&ĐT cần nghiên cứu lại các văn bản để chỉ ra tại sao lại thực hiện chưa tốt, khó thực hiện hay không thể thực hiện được. Sở cũng cần phối hợp các sở liên quan xem lại các cơ chế, chính sách hiện có liên quan đến xã hội hoá đặc biệt là Quyết định 25/2010/QĐ-UBND
Sở GD&ĐT Hà Nội cũng cần tham mưu UBND Thành phố để sớm đưa ra tiêu chuẩn đánh giá trường học theo mô hình giáo dục Chất lượng cao (phấn đấu xong trong quí II); quản lý các cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài về nội dung, chương trình, chất lượng, đánh giá xếp hạng… Sở chú ý đánh giá đúng các cơ sở giáo dục, sau đó công khai thông tin qua website và Tạp chí của ngành để cho mọi người biết trường nào tốt, tốt ở điểm nào; Sở cũng cần quan tâm đến 7 nhóm giải pháp đã nêu trong Nghị quyết 06/2009/NQ-HĐND; Hướng dẫn tạo điều kiện cho cơ sở xã hội hoá, nhà đầu tư tiếp cận thông tin cần thiết và hưởng chính sách ưu đãi về xã hội hoá từ đó biết được những quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia xã hội hoá giáo dục; Tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước để đảm bảo chất lượng hoạt động xã hội hoá giáo dục.
Vũ Toàn
Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 29+30, tháng 5,6/2012